Theo Lịch Phụng Vụ, Mùa Chay bắt đầu từ Lễ Tro, giáo hội có ý nhắc nhở cho ta về lẽ vô thường, sinh diệt của đời sống con người. Hễ có sinh thì ắt có tử, không ai thoát khỏi ! Tuy nhiên, có sự thật cần phải suy gẫm đó là chết không phải là hết; nhưng nếu chết không phải là hết thì rồi ta sẽ đi đâu ? Về đâu?
Chết rồi đi đâu ? Đây là câu hỏi đã được đặt ra trong suốt dòng lịch sử triết học đông tây, kim cổ mà cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng ! Đức Khổng Tử, mặc dù quan niệm Sống Gửi Thác Về ( Sinh ký dã, tử quy dã ). Thế nhưng, khi được hỏi: Người chết có còn biết gì nữa không thì ngài trả lời cách…lấp lửng: Cho người chết là mất hẳn, không biết gì nữa là bất nhân, không nên theo. Trái lại cho người chết là vẫn còn biết như lúc hãy còn sống là bất trí, cũng không nên theo” ( T.T. Kim – Nho Giáo – Q. Thượng ).
Với đức Lão Tử thì tuy minh triết nhưng lại mông lung, khó hiểu khi bàn về Đạo: “ Ta không biết tên gọi là Đạo. Gượng cho là Lớn. Lớn là tràn khắp. Tràn khắp là đi xa. Đi xa là trở về” ( Đạo Đức Kinh – Chương 25 ). Càng đi xa tức càng khổ bao nhiêu thì càng cần phải gấp trở về bấy nhiêu. Có trở về thì mới hết khổ…Như vậy, việc trở về với minh triết Đông Phương kể như vẫn còn…bỏ ngỏ ! Nhưng dù sao, vẫn còn đó nỗi thao thức khôn nguôi đã được diễn tả qua những vần thơ trác tuyệt của thi sĩ Tản Đà ( 1889 – 1939 ):
“ Nước non nặng một nhời thề
Nước đi, đi mãi không về cùng non
Nhớ nhời nguyện ước, thề non
Nước đi chưa lại, non còn đứng không
Non cao những ngóng cùng trông
Suối tuôn dòng lệ, chờ mong tháng ngày”
( Tản Đà Tùng Văn )
Nếu trong triết lý, văn chương đã không thể có câu trả lời cho câu hỏi: Con người ta chết rồi đi dâu thì chúng ta có thể tìm câu trả lời ấy ở đâu nếu không phải trong Lời Chúa ?:
“ Bấy giờ Chúa phán: Các ngươi hãy thật lòng trở về với Ta trong chay tịnh, nước mắt và than van. Hãy xé tâm hồn chứ đừng xé áo các ngươi. Hãy trở về với Chúa là Thiên Chúa các ngươi vì Người nhân lành và từ bi, nhẫn nại, giàu lòng thương xót và biết hối tiếc về tai họa” ( Ge 2, 12 -13 ).
“ Hãy xé tâm hồn chứ đừng xé áo các ngươi” Chính với mệnh lệnh này mà ta thấy có sự khác biệt sâu xa giữa Cựu Ước và Tân Ước về việc Ăn Chay. Sự khác biệt ấy đã được Chúa Giê Su giảng giải khi có người Pharisi đưa ra câu chất vấn: “ Tại sao các môn đệ của ông Gioan ( Tẩy Giả ) và những người phái Pharisi ăn chay, còn các môn đệ của Thầy lại không ăn chay ? Chúa Giê Su đáp: Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay khi chàng rể còn ở với họ ? Bao lâu chàng rể còn ở với họ thì họ không thể ăn chay. Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay. Chẳng ai lấy vải mới mà vá vào áo cũ vì như vậy, miếng vá mới vá vào sẽ kéo vải cũ khiến chỗ rách lại càng rách thêm. Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu sẽ làm nứt bầu, thế là rượu cũng mất mà bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì bầu cũng phải mới” ( Mc 2, 18 -22 ).
Qua câu trả lời này, Chúa Giê Su cho thấy có sự phân biệt giữa Cựu và Tân Ước giống như vải mới và áo cũ, giữa rượu mới và bình cũ. Trong việc Ăn Chay, tuy về phần hình thức vẫn giống nhau nhưng tinh thần thì phải khác. Như vậy, sự khác biệt giữa Cựu Ước và Tân Ước chính là ở phần tinh thần và cũng chính vể sự khác biệt ấy thế nên Chúa Giê Su đã nặng lời phê phán người Pharisi là hạng giả hình đạo đức chỉ xét đoán theo bề ngoài: “ Người Pharisi thấy Ngài không rửa tay trước khi ngồi vào bàn ăn thì thắc mắc. Chúa Giê Su phán cùng người ấy rằng: Này các ngươi là người Pharisi, rửa sạch sẽ bên ngoài chén bát và mâm. Song bề trong các ngươi đầy dẫy sự bức sách và gian ác. Ớ kẻ ngu dại kia. Đấng đã làm nên bề ngoài há không làm nên bề trong nữa sao ? Nhưng các ngươi hãy lấy cái ở trong mà bố thí, mọi vật đều nên sạch cho các ngươi” ( Lc 11, 37 -41 ).
Người Pharisi chỉ thấy cái bên ngoài để rồi phán đoán này nọ. Đang khi đó, Chúa Giê Su cho thấy tất cả những cái gọi là…bên ngoài ấy đều được quyết định bởi cái bên trong tức là từ nơi tư tưởng. Ta có tư tưởng ăn thì mới ăn. Ta có tư tưởng đi, đứng, nằm ngồi, rẽ phải, rẽ trái. đi lên, đi xuống… thì mới đi, đứng, nằm, ngồi ….Đối với việc thiện, ác cũng vậy, ta có tư tưởng thiện thì mới có thể làm điều thiện, trái lại có tư tưởng ác sẽ làm điều ác…
Con người thường chứa chấp nơi mình những tư tưởng ích kỷ, tham lam, giận ghét ( Ác Tưởng ) để rồi phải chịu nhiều nỗi bất hạnh, khổ đau mà không hề hay biết ! Bởi đó cho nên trong việc ăn chay, Chúa Giê Su khuyên nhủ chúng ta không nên bắt chước bọn giả hình đạo đức: “ Khi các ngươi ăn chay, chớ làm bộ buồn rầu như bọn giả hình vì họ nhăn nhó để tỏ vẻ ăn chay với người ta. Họ đã được phần thưởng ( Tiếng Khen ) của họ rồi. Còn ngươi khi ăn chay, hãy xức dầu thơm trên đầu và rửa mặt sạch sẽ hầu tỏ ra là mình đang ăn chay với người ta nhưng chỉ tỏ cho Cha ngươi là Đấng ở nơi ẩn mật và Cha ngươi là Đấng thấy trong chỗ ẩn mật sẽ báo đáp cho ngươi” ( Mt 6, 16 -18 ).
Ở đây, Chúa Giê Su nói việc ăn chay không nên cố ý tỏ cho người khác biết, chỉ Cha biết và Ngài sẽ báo đáp cho. Lời Chúa Giê Su, một lần nữa cho thấy sự khác biệt giữa Cựu và Tân Ước về mục đích việc ăn chay. Trong Do Thái giáo việc ăn chay có thể để tránh một tai họa lớn như dân thành Ninive ( Gn 3, 5 ). Hoặc để cầu khẩn, xin ơn tha thứ sau một trận chiến thất bại: “ Hôm ấy, họ ăn chay cho đến chiều, rồi họ dâng lễ toàn thiêu và lễ kỳ an lên trước Nhan Đức Chúa” ( Tl 20, 26 ).
Sự khác biệt trong việc ăn chay giữa Cựu và Tân Ước là ở nơi đối tượng của việc cầu nguyện. Với Cựu Ước, đối tượng ấy là một Đấng cao cả, siêu việt bên ngoài con người. Còn trong Tân Ước thì Đấng ấy là Đấng Cha nội tại giàu lòng xót thương. Một khi đối tượng của việc cầu nguyện đã khác thì việc ăn chay dĩ nhiên cũng phải khác và chỉ khi nào nhận ra điều này, chúng ta mới hiểu tại sao Chúa Giê Su lại ví mình như…chàng rể trong một tiệc cưới: “ Bao lâu chàng rể còn ở với họ thì họ không thể ăn chay nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi, bấy giờ họ mới ăn chay…”
“ Chàng rể bị đem đi”. Lời này để ám chỉ cho cái chết như một Hiến Lễ vì Tình Yêu của Chúa Giê Su. Sở dĩ Chúa Giê Su khi còn ở với các môn đệ, họ không ăn chay giống như những luật sĩ và người Pharisi là bởi sự khác biệt về đối tượng của việc cầu nguyện. Khi Chúa Giê Su còn ở với các môn đệ thì họ không ăn chay nhưng khi Ngài đã về cùng Cha cũng là Đấng Cha của mỗi người ( Ga 20, 17 ) thì cần phải ăn chay như một điều thiết yếu để vào được Nước Trời.
Chúa Giê Su đã phục sinh về trời; người Công Giáo tin chắc như vậy. Thế nhưng niềm tin ấy nào có ích chi đâu nếu chúng ta không tin rằng mình cũng sẽ được về trời với Ngài ? Trước khi đi nộp mình chịu chết, Chúa Giê Su dâng lên Cha lời khẩn nguyện: “ Cha ơi ! Con muốn Con ở đâu thì những kẻ Cha đã ban cho Con cũng được ở đó với Con để họ ngắm xem sự vinh hiển Cha đã ban cho Con vì từ trước buổi sáng thế, Cha đã thương yêu Con” ( Ga 17, 21 -24 ).
Đức Giê Su sinh xuống thế gian để cứu vớt kẻ tội lỗi biết ăn năn, sám hối trở về: “ Hãy đi học cho biết lời này: Ta muốn sự thương xót chứ không muốn sinh tế. Vì Ta đến không phải để kêu gọi kẻ công chính, bèn là kẻ có tội” ( Mt 9, 13 ).
Chúa thương xót kẻ có tội nhưng với điều kiện là phải thực tâm sám hối tội lỗi mình. Mùa Chay chính là dịp vô cùng quý báu để cho ta có thể nhận biết tội mình và quyết tâm trở về giống như người con trong Dụ Ngôn Người Con Hoang Đàng: “ Ta sẽ đứng dậy trở về cùng cha mà thưa rằng: Cha ôi, tôi đã phạm tội với trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin đãi con như đứa làm thuê vậy” ( Lc 15, 18 -19 ).
Mùa Chay như đã biết, bắt đầu từ Lễ Tro cho đến Lễ Phục Sinh. Trong thời gian 40 đêm ngày này, người Công Giáo sống trong một không gian đượm vẻ bi ai nhưng tràn trề hy vọng: Trên các bàn thờ không có trang trí hoa, đèn rực rỡ. Có những buổi Tĩnh Tâm gẫm suy về 04 Sự Sau Hết: Chết, Phán Xét, Thiên Đàng, Hỏa Ngục. Ngắm Đàng Thánh Giá trọng thể tưởng nhớ cuộc khổ nạn của Chúa Giê Su v.v…
Cùng với tất cả những sinh hoạt của Mùa Chay ấy là việc ăn chay, kiêng thịt vào ngày Thứ Tư Lễ Tro và ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Việc ăn chay, kiêng thịt theo luật buộc này có mục đích sâu xa là để nhắc nhở cho ta về Bản Tính Con Thiên Chúa đã được Thiên Chúa tác tạo ở nơi mình ( St 1, 26 ). Chúa Giê Su sau khi chịu Phép Rửa tại sông Gióc Đan đã đầy Ơn Thánh Linh, được dẫn vào trong hoang địa, sống ở đó suốt 40 đêm ngày, không ăn, không uống. Sau thời gian đó Ngài đói và quỷ Sa Tan nói với Ngài: “ Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy truyền cho hòn đá này biến thành bánh mà ăn đi. Chúa Giê Su đáp lại rằng: Có lời chép rằng: Người ta không nguyên sống bởi bánh mà còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” ( Lc 4, 1 -4 ).
Quỷ Sa Tan dùng Kinh Thánh để cám dỗ và Chúa Giê Su cũng lấy Kinh Thánh ( Sách Đệ Nhị Luật 8, 3 ) để đáp lại. Con người có hai phần: Vật chất và tâm linh, phần vật chất là cấu hợp bởi 04 nguyên tố Đất, Nước, Gió, Lửa ( Tứ Đại ). Cái gì do cấu hợp, duyên sinh thì sẽ có ngày tan rã, mất đi nhưng cái còn lại tức phần tâm linh thì không mất, có nghĩa sẽ được sống lại: “ Sự sống lại của kẻ chết cũng như vậy. Đã gieo ra là hay hư nát mà được sống lại là không bị hư nát. Đã gieo ra là nhục mà được sống lại là vinh. Đã gieo ra là yếu mà được sống lại là mạnh. Đã gieo ra là thể thuộc huyết khí mà được sống lại là thể thuộc linh” ( 1C 15, 42 -44 ).
Đạo Công Giáo tin có sự sống lại và sự sống lại ấy là phần linh hồn chứ không phải thể xác bởi như trích đoạn vừa rồi cho thấy nó chỉ là thể huyết khí không thể thừa hưởng được Nước Trời là chốn vinh hiển đời đời ! Với đức tin vào sự sống lại như thế, nên Luật Ăn Chay của Đạo Công Giáo xem ra có vẻ…lỏng lẻo so với một số tôn giáo khác như Phật Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo v.v…Thế nhưng nó lại mang tính chất vượt trội không đạo giáo nào có được ?
Lý do khiến Việc Ăn Chay của Đạo Công Giáo mang tính vượt trội như thế là nhờ ở nơi Bí Tích Thánh Thể đem lại Sự Sống Đời Đời cho những kẻ có lòng tin. Chúa Giê Su phán cùng người Do Thái: “ Ta là bánh của sự sống. Ai đến cùng Ta hẳn chẳng hề đói. Ai tin Ta thì chẳng hề khát” ( Ga 6, 35 ). Sự đói và khát, Chúa nói ở đây là đói, khát về phần tâm linh. Con người ta theo bản năng, ai cũng có nỗi sợ đói và khát. Thế nhưng có một sự đói, khát còn thê thảm hơn nhiều đó là đói, khát về phần tâm linh. Chính cái sự đói, khát ấy mới khiến con người phải sống triền miên trong tăm tối, khổ đau chứ không phải cái đói, khát thể xác !!!
Bí Tích Thánh Thể là một mầu nhiệm và mầu nhiệm ấy đã chứng thực cho chân lý ngàn đời: “ Con người ta sống không nguyên bởi bánh nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” ( Đnl 8, 3 ). Có một chứng cớ ngay trong thời đại hôm nay về Bánh Hằng Sống không chỉ nuôi dưỡng phần linh hồn nhưng còn cả về phần xác. Đó là trường hợp của chị Marthe Robin ( 1902 – 1981 ), đấng sáng lập Tổ Ấm Bác Ái ( Foyers de Charite’ ). Nhà thần bí người Pháp này vào năm 28 tuổi ( ? ) bị liệt cả tứ chi, được Chúa Giê Su và Đức Mẹ hiện ra nhiều lần, cho in 05 Dấu Thánh và Mão Gai, không ăn, không uống suốt 50 năm, chỉ được cha xứ đến nhà cho Rước Lễ hàng tuần. Đám tang của chị có 06 giám mục và hàng trăm linh mục và giáo dân khắp nơi đổ về tham dự…
Bí Tích Thánh Thể còn được gọi là Bí Tích Tình Yêu nhưng đó lại là mầu nhiệm đức tin, có tin Chúa Giê Su ngự thật trong Hình Bánh nhỏ mọn ấy thì mới sinh được ơn ích ! Đang khi đó, vào thời cuối của Ơn Cứu Độ này, đức tin như lời Chúa Giê Su tiên báo hầu như chẳng còn: “ Dẫu vậy, khi Con Người đến, há sẽ tìm được đức tin trên mặt đất này chăng ? ( Lc 18, 8 ).
Đức tin không còn, nhân loại giờ đây dường như đang sống trong tình trạng vô vọng, chẳng còn biết nương tựa vào đâu ? Phải chăng Mùa Chay năm Bính Ngọ này là cơ hội cuối cùng hầu cho con người có thể trở về ? Tuy nhiên, dẫu nhân loại hiện sống trong tình trạng như thế nào thì Lòng Thương Xót Chúa vẫn không bao giờ nguôi. Mùa Chay rồi sẽ kết thúc để Mùa Phục Sinh tiếp nối. Chúa Giê Su đã hứa với thánh Faustina về một ơn sủng vô cùng lớn lao sẽ được ban xuống trong đại lễ Kinh Lòng Thương Xót:
“ Ái nữ của Cha, con hãy nói cho cả thế giới biết về lòng thương xót khôn lường của Cha. Cha ước mong đại lễ kính lòng thương xót Cha trở thành chỗ nương náu và trú ẩn cho mọi linh hồn, nhất là các tội nhân đáng thương. Trong ngày hôm ấy, lượng thương xót dịu hiền thẳm sâu của Cha sẽ được khai mở. Cha trào đổ cả một đại dương ân sủng xuống cho các linh hồn tìm đến với nguồn mạch xót thương của Cha. Người nào xưng tội và chịu lễ sẽ được lãnh nhận hồng ân thứ tha mọi tội lỗi và mọi hình phạt. Ngày hôm ấy, mọi chốt chặn những nguồn thác ân sủng đều được tháo mở. Đừng linh hồn nào sợ đến bên Cha, cho dù tội lỗi họ có đỏ thắm như điều. Lòng nhân ái của Cha bao la đến nỗi không một trí năng nào, dù nhân loại hay thiên thần có thể hiểu được” ( NK số 699 )./.
Phùng Văn Hóa
( Trà Cổ – Mùa Chay Thánh 2026 ).